Kháng thể là gì? Chia sẻ từ a-z về kháng thể

0
239

Để có thể xác định được một số loại bệnh nhiễm trùng nhất định và một số rối loạn thì có thể thông qua xét nghiệm kháng nguyên, kháng thể. Vậy thực chất kháng nguyên và kháng thể là gì? Cùng theo dõi bài viết của chúng tôi để có thêm nhiều thông tin bổ ích nhé!

Kháng nguyên kháng thể là gì?

Kháng thể là gì?

Kháng thể (antibody) là các protein chữ Y được tạo ra bởi các tế bào B hoặc tế bào lympho B của hệ thống miễn dịch. Chúng có nhiệm vụ xác định và vô hiệu quá các vật lạ tác động đến hệ thống miễn dịch chung.

Kháng thể là gì
Kháng thể Y

Vì nó có hình dạng như một chữ Y nên các kháng thể cho phép hệ thống miễn dịch có thể điều chỉnh phản ứng của nó đối với một số mối đe dọa như: virus, vi khuẩn hay tế bào ung thư. Nhờ có cấu tạo độc đáo này đã cho phép chúng có thể liên kết đặc biệt với các ký hiệu hóa học phức tạp của mối đe dọa, từ đó giúp loại bỏ chúng khỏi hệ thống miễn dịch.

Hiểu theo một cách: Virus, vi khuẩn hay các mầm bệnh khác (vi sinh vật gây bệnh) được hiểu là kẻ xâm lược (kháng nguyên). Kháng thể được tạo ra bởi hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ liên kết với một kháng nguyên cụ thể, có hình dạng phân tử phù hợp để tiêu diệt chúng hoặc gắn thẻ để các tế bào miễn dịch khác có thể nhận ra.

Tóm lại: Kháng thể là những chất được sản xuất khi cơ thể con người nhận biết được có sự xâm nhập của các sinh vật lạ. Kháng thể giúp tiêu diệt vi khuẩn có hại để bảo vệ cơ thể. Cơ thể nào có khả năng hình thành kháng thể càng mạnh thì sẽ có khả năng miễn dịch chống lại các bệnh nhiễm khuẩn càng cao.


>>Xem thêm: Healthy là gì? Bật mí về chế độ ăn uống healthy

Kháng nguyên là gì?

Kháng nguyên là gì?
Kháng nguyên là gì?

Kháng nguyên (antigen) là những chất khi xâm nhập vào cơ thể người thì sẽ được hệ thống miễn dịch nhận biết và từ đó sinh ra các kháng thể tương ứng. Nó có thể là kháng thể dịch thể hoặc kháng thể tế bào, có đặc tính kết hợp đặc hiệu hoặc kích thích đáp ứng khả năng miễn dịch với kháng nguyên ấy. Đáp ứng này có thể là dương tính hoặc âm tính.

– Đáp ứng dương tính nghĩa là cơ thể sinh globulin (huyết thanh) miễn dịch chống lại, kháng nguyên đã kích thích cơ thể sản xuất ra kháng thể đó. 

– Đáp ứng âm tính là trạng thái khi mà cơ thể tiếp xúc với kháng nguyên và cơ thể dung nạp kháng nguyên đó. Điều này có nghĩa là các tế bào miễn dịch trong cơ thể đã không đáp ứng để tạo ra kháng thể. 

Trạng thái này đóng vai trò rất quan trọng trong việc cơ thể chấp nhận hay là loại trừ các kháng nguyên sau khi chúng xâm nhập vào cơ thể.

Hình thành kháng thể như thế nào?

Phải trải qua một quá trình rất phức tạp và nhiều giai đoạn thì mới có thể tạo ra kháng thể. Tuy nhiên chủ đảo nhất vẫn cần trải qua đủ 3 giai đoạn như sau:

Hình thành kháng thể bảo vệ cơ thể
Hình thành kháng thể bảo vệ cơ thể
  • Giai đoạn cân bằng

Giai đoạn cân bằng là thời gian các kháng nguyên cân bằng giữa mạch máu và ngoài mạch máu thông qua việc khuyết tán. Khi kháng nguyên dừng hẳn việc khuyết tán thì giai đoạn cân bằng này sẽ chấm dứt. Thông thường thì quá trình này diễn ra khá nhanh chóng.

  • Giai đoạn chuyển hóa phân rã

Ở giai đoạn này thì các enzyme và tế bào của cơ thể sẽ chuyển hóa kháng nguyên. Phần lớn thì các kháng nguyên sẽ bị các đại thực bào và tế bào thực bào khác bắt lại. Giai đoạn chuyển hóa phân rã này xảy ra nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào các chất sinh miễn dịch và cơ thể chủ.

  • Giai đoạn loại bỏ miễn dịch

Kháng thể vừa được tổng hợp sẽ thực hiện liên kết với các kháng nguyên để tạo thành liên kết phức hợp kháng nguyên – kháng thể. Một thời gian sau chúng sẽ bị thực bào và thoái hóa. Kết quả cuối của giai đoạn này chính là kháng thể tồn tại trong huyết thanh và sẽ đảm nhiệm đúng vai trò của nó.

Phân loại kháng thể là gì?

Theo ghi nhận từ nghiên cứu khoa học thì có 5 loại kháng thể chính. Mỗi loại kháng thể lại có các phương pháp riêng biệt cũng như có một vị trí liên kết phù hợp với một kháng nguyên cụ thể để giúp bảo vệ cơ thể, chống lại bệnh tật:

5 loại kháng thể chính
5 loại kháng thể chính
  • Immunoglobulin G (IgG)

IgG chiếm khoảng 75% tổng số các kháng thể trong cơ thể chủ. Tùy thuộc vào kháng nguyên cụ thể mà IgG có thể gắn thẻ mầm bệnh để các tế bào miễn dịch và protein khác nhận ra nó hoặc tự nó sẽ thúc đẩy việc giải phóng để tiêu diệt.

Một số trường hợp hiếm gặp: IgG có thể gây ra phản ứng không mong muốn ở đối tượng mắc bệnh tự miễn dịch. Lúc này, hệ thống miễn dịch vô tình tấn công các tế bào và mô của chính nó.

  • Immunoglobulin A (IgA)

IgA chính là một trong những loại kháng thể đầu tiên của cơ thể có khả năng chống lại nhiễm trùng. Nó chiếm khoảng 15% trong tổng các kháng thể trong cơ thể con người. IgA được sản xuất bởi các tế bào B, được tiết ra từ lớp đậm và một lớp mỏng trong các mô niêm mạc.

Trong cơ thể con người thì IgA được tìm thấy chủ yếu ở trong các mô niêm mạc như: âm đạo, ruột, miệng hay trong tuyến nước bọt, nước mắt, sữa mẹ…

Bên cạnh đó, IgA còn có liên quan đến phản ứng quá mẫn cảm ở bệnh nhân bị Celiac và một số bệnh rối loạn tự miễn dịch khác.

  • Immunoglobulin M (IgM)

IgM là một trong những kháng thể đầu tiên được hệ thống miễn dịch thu nhận để chống lại tình trạng nhiễm trùng. IgM được sản xuất ra bởi các tế bào B và liên kết với mầm bệnh. Đồng thời nó còn thúc đẩy các kháng thể và tế bào miễn dịch khác hoạt động.

Khi cơ thể con người lần đầu tiên đối mặt với một sinh vật lây nhiễm thì các quần thể IgM tăng rất nhanh. Sau đó nó sẽ giảm mạnh khi các kháng thể IgG tiếp quản.

Bên cạnh việc kích hoạt phản ứng miễn dịch thì một tập hợp con của IgM còn giúp tế bào B ghi nhớ các tác nhân gây bệnh và về sau nó sẽ tự động tiêu hủy các tác nhân đó. Điều này có nghĩa là: Nếu cơ thể bị tác nhân gây bệnh xâm nhập lần đầu thì hệ thống miễn dịch của cơ thể sẽ phản ứng. Đồng thời sẽ tiêu diệt tác nhân đó nhanh hơn vào những lần sau do tế bào B đã lưu lại.

  • Immunoglobulin E (IgE)

IgE là loại kháng thể chịu trách nhiệm về phản ứng dị ứng. IgE được sản xuất bởi các tế bào B được tiết ra bởi hạch bạch huyết hoặc các mô bạch huyết nằm gần vị trí của chất gây dị ứng. IgE chủ yếu được tìm thấy trong màng niêm mạc, da và phổi.

Khi kháng thể IgE liên kết với chất gây dị ứng sẽ gây ra hàng loạt phản ứng và cuối cùng là giải phóng histamin (nguyên nhân chính gây ra các triệu chứng dị ứng).

  • Immunoglobulin D (IgD)

Kháng nguyên IgD này đóng vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn đầu của phản ứng miễn dịch mặc dù nó chỉ chiếm khoảng 0,25% trong tổng số kháng thể của cơ thể.

Không giống như các kháng thể khác, IgD không tích cực lưu thông mà thay vào đó là liên kết với tế bào V để có thể kích hoạt phản ứng miễn dịch. Song, một kháng thể truyền tín hiệu thì IgD sẽ kích thích giải phóng IgM để chống cự lại.

Vai trò của kháng thể là gì?

  • Liên kết với kháng nguyên
Kháng thể liên kết với kháng nguyên
Kháng thể liên kết với kháng nguyên

Nhờ các vùng biến đổi mà các globulin miễn dịch có thể nhận diện kháng nguyên tương ứng và tiến hành gắn thẻ một cách đặc hiệu. Nếu như một loại virus hay vi khuẩn gây bệnh nào đó tấn công vào cơ thể thì vi khuẩn sẽ sử dụng các phân tử bám dính là các adhesive, còn virus sử dụng các protein cố định trên lớp vỏ ngoài. Lúc này thì các kháng thể kháng các phân tử bám dính adhesive và protein capside nhằm ngăn chặn chúng tấn công vào tế bào đích.

  • Kích hoạt hệ thống bổ thể

Kích hoạt hóa dòng thác bổ thể cũng là một trong những vai trò chủ đạo của kháng thể nhằm bảo vệ cơ thể của chúng ta khỏi các tác nhân gây hại.

Bổ thể ở đây là một tập hợp các protein huyết tương khi được hoạt hóa nó sẽ có tác dụng tiêu diệt các mầm bệnh tấn công (chủ yếu là vi khuẩn). Tiêu diệt bằng cách đục lỗ trên vi khuẩn, tạo điều kiện cho hiện tượng thực bào, thanh thải các phức hợp miễn dịch, cuối cùng là giúp phóng thích các phân tử hóa.

  • Huy động các tế bào miễn dịch

Kháng thể sẽ liên kết với các tế bào miễn dịch sau khi chúng được gắn vào kháng nguyên ở đầu biến đổi. Nhờ đó mà các kháng thể có khả năng gắn với một vi khuẩn với một đại thực bào và hiện tượng thực bào được thực bào. Các tế bào lympho tiêu diệt tự nhiên có thể thực hiện chức năng độc tế bào và ly giải.

Một số câu hỏi liên quan đến kháng thể

Hiệu giá kháng thể là gì?

Nồng độ của kháng thể trong huyết thanh để chống lại một kháng nguyên nào đó thường được đo bằng cách tính xem đến độ pha loãng bao nhiêu thì phản ứng giữa kháng nguyên và kháng thể không còn thấy được nữa. Độ pha loãng này chính là hiệu giá kháng thể.

Xét nghiệm kháng thể là gì?

Xét nghiệm kháng thể
Xét nghiệm kháng thể

Dựa trên cấu trúc chữ Y độc đáo của kháng thể mà giới y học hiện đại đã sử dụng để chẩn đoán bệnh lý thông qua việc xét nghiệm. Các xét nghiệm kháng thể được thực hiện để phát hiện kháng thể đặc hiệu trong một mẫu máu từ cơ thể chủ.

Một số loại bệnh được chỉ định xét nghiệm kháng thể để chẩn đoán như: Covid-19, bệnh Celiac, bệnh bạch hầu, HIV, bệnh cúm, quai bị, ho gà, uốn ván…

Các xét nghiệm kháng thể này không phát hiện ra các mầm bệnh thực sự gây ra nhiễm trùng mà nó chỉ phát hiện kháng thể tạo ra đáp ứng với nhiễm trùng. Nếu như kết quả là âm tính (-) thì đồng nghĩa với việc không hề có sự tồn tại của kháng thể đó. Ngược lại, nếu kết quả là dương tính (+) thì xét nghiệm đã phát hiện ra kháng thể hoặc kháng nguyên.

Xét nghiệm kháng thể không có khả năng chẩn đoán bệnh nhiễm trùng hiện tại. Điều này là do cơ thể có thể phải mất khoảng 1-3 tuần sau khi bị nhiễm trùng để các kháng thể được phát hiện trong xét nghiệm chẩn đoán. Vì vậy, nếu thực hiện quá sớm thì xét nghiệm có thể cho ra âm tính giả.

Trên đây là những thông tin xoay quanh vấn đề kháng nguyên, kháng thể là gì. Hy vọng bài viết sẽ giúp bạn có được thêm những kiến thức hay và bổ ích.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here